Trong phòng thí nghiệm, các hợp chất của cần sa có thể giết tế bào ung thư nuôi trong đĩa. Nhưng chúng chỉ làm được ở nồng độ cao hơn mức máu người đạt tới. Chưa có thử nghiệm đầy đủ nào trên người cho thấy cần sa chữa được ung thư. Phần này giải thích vì sao. Bài cũng nói về ba việc: người bệnh dùng cần sa thay cho điều trị thì sao, tương tác thuốc nào đáng lưu ý, và cần sa nhiễm bẩn nguy hiểm thế nào cho người miễn dịch yếu.
Phần 1 cho thấy bằng chứng chỉ ủng hộ một vai trò hẹp: dùng thêm cannabinoid cùng thuốc chuẩn khi buồn nôn, nôn do hoá trị chưa kiểm soát được. Với đau, chán ăn, mất ngủ và lo âu, bằng chứng cho kết quả âm tính hoặc chưa đủ.
Đây là Phần 2. Phần 1: https://asiannabis.com/t/1308
8. Cannabinoid tác động lên tế bào ung thư trong phòng thí nghiệm như thế nào
Năm 2022, hai nhà nghiên cứu Ramer và Hinz đã tổng quan các nghiên cứu này trên tạp chí British Journal of Cancer. Các nghiên cứu dùng dòng tế bào (cell line), tức tế bào ung thư được nuôi trong phòng thí nghiệm. Trên các tế bào này, cannabinoid (các hoạt chất của cần sa) có ba tác động:
- Kích hoạt apoptosis, tức quá trình tế bào tự chết theo chương trình. Có hai nguyên nhân. Một là ceramide, một phân tử chất béo, bị tích tụ. Hai là lưới nội chất, bộ phận làm ra protein của tế bào, bị căng thẳng.
- Làm chậm tế bào phát triển. Cannabinoid chặn Akt, một tín hiệu tăng trưởng, và làm dừng chu kỳ phân chia của tế bào.
- Chặn tạo mạch máu mới (angiogenesis). Khối u cần mạch máu mới để lấy máu nuôi.
Vấn đề nồng độ: điểm mấu chốt của lập luận
Bài tổng quan này cũng chỉ ra một khoảng cách quan trọng. Phần lớn các nghiên cứu thấy tế bào ung thư chết đều dùng nồng độ trên 1 micromolar (đơn vị đo nồng độ chất trong dung dịch). Khi hít hoặc nuốt THC, mức cao nhất trong máu không vượt quá 1 micromolar. Xem Dược động học của cannabinoid để biết nồng độ trong máu phụ thuộc đường dùng thế nào.
Dùng nhiều cần sa hơn cũng không lấp được khoảng cách này. Cơ thể chỉ hấp thu tới một mức nhất định. Tác dụng phụ đã trở nên không chịu nổi trước khi nồng độ đủ cao.
Bài tổng quan cũng ghi nhận tác dụng ngược lại. Virus gây u nhú ở người (HPV) là thủ phạm gây một số ung thư vùng đầu cổ. Trên mô hình phòng thí nghiệm của các loại ung thư này, THC và các cannabinoid khác làm ung thư phát triển thay vì teo lại. Bài tổng quan còn dẫn các nghiên cứu cũ hơn: ở nồng độ dưới 1 micromolar, đúng mức máu người thực sự đạt tới, tế bào ung thư lại lớn nhanh hơn.
Thêm hai khoảng cách giữa đĩa nuôi cấy và người bệnh
Huyết thanh và đĩa nhựa. Huyết thanh là phần giàu protein của máu. Thông thường, người ta cho huyết thanh vào dung dịch nuôi tế bào trong đĩa. Nhiều nghiên cứu về cannabinoid lại dùng rất ít hoặc không dùng huyết thanh. Năm 2024, nhóm của Carkaci-Salli ở Penn State, một trường đại học Mỹ, đã kiểm tra điều này tạo ra khác biệt gì. Kết quả được công bố với tựa đề “Cannabinoids as Potential Cancer Therapeutics: The Concentration Conundrum” (tạm dịch: Cannabinoid – thuốc ung thư tiềm năng: bài toán nồng độ), đăng trên Cannabis and Cannabinoid Research 9(4).
Nhóm nghiên cứu thử bốn cannabinoid ở nồng độ 10 micromolar trên sáu dòng tế bào ung thư. Ba chất cho tác dụng mạnh hơn khi không có huyết thanh: THC, CBD và KM-233, một hợp chất được thiết kế trong phòng thí nghiệm. Khi không có huyết thanh, IC50 (nồng độ cần để chặn một nửa số tế bào) thấp hơn. Khi đó, THC và CBD còn bám rất nhiều vào thành nhựa của đĩa.
Nhóm nghiên cứu lưu ý rằng trong cơ thể, 90–95% cannabinoid gắn với protein trong máu. Chỉ phần nhỏ không gắn mới tác động được lên tế bào. Trong đĩa không có huyết thanh, toàn bộ liều đều ở dạng tự do. Vì vậy, một thói quen phổ biến trong phòng thí nghiệm làm cannabinoid trông mạnh hơn mức chúng có thể đạt trong cơ thể người bệnh.
Miễn dịch. Nhiều người cho rằng cần sa giúp hệ miễn dịch chống ung thư. Ít nhất một hướng bằng chứng lại cho thấy điều ngược lại. Năm 2022, một nghiên cứu trên Signal Transduction and Targeted Therapy xem xét tế bào T, loại bạch cầu tiêu diệt tế bào ung thư. Cần sa làm yếu khả năng chống khối u của tế bào T bằng cách chặn JAK/STAT, chuỗi tín hiệu kích hoạt tế bào T. Cần sa làm vậy thông qua CNR2, gen tạo ra thụ thể CB2, một thụ thể cannabinoid nằm chủ yếu trên tế bào miễn dịch. Xem Hệ endocannabinoid.
Điều này càng quan trọng vì liệu pháp miễn dịch nay là trụ cột trong điều trị nhiều loại ung thư.
Việc bạn làm được: Khi thấy bài đăng nói cần sa “giết tế bào ung thư”, hãy tìm nồng độ mà nghiên cứu đã dùng và so với mức 1 micromolar. Nếu nghiên cứu dùng nồng độ cao hơn, người dùng cần sa không đạt được mức đó.
9. Thử nghiệm trên người nhắm vào chính khối u
Nghiên cứu thí điểm về u não năm 2006
Năm 2006, nhóm của Guzmán công bố một nghiên cứu thí điểm trên British Journal of Cancer. Nghiên cứu gồm chín người bệnh u nguyên bào thần kinh đệm (glioblastoma) tái phát, tức u não ác tính đã quay lại sau điều trị. THC được đưa qua một ống nhỏ (catheter) thẳng vào khoang trống còn lại sau khi mổ cắt khối u. Nhóm chọn đường này vì máu không mang đủ THC tới khối u.
Thời gian sống trung vị tính từ lúc bắt đầu dùng THC là 24 tuần. Trung vị nghĩa là một nửa số người bệnh sống ngắn hơn mức này, một nửa sống lâu hơn. Viện Ung thư Quốc gia Mỹ (NCI) tóm tắt: nghiên cứu không cho thấy lợi ích lâm sàng đáng kể. Xem thêm Cannabinoid và u thần kinh đệm.
Thử nghiệm năm 2021: cho thấy gì và không cho thấy gì
Năm 2021, nhóm của Twelves báo cáo một thử nghiệm pha 1b trên glioblastoma tái phát. Pha 1b là thử nghiệm giai đoạn sớm, mục tiêu chính là kiểm tra độ an toàn. Người bệnh dùng temozolomide, thuốc hoá trị chuẩn, kèm thuốc xịt nabiximols hoặc giả dược. Ở phần 2 của thử nghiệm, 21 người bệnh được chia ngẫu nhiên: 12 người dùng nabiximols và 9 người dùng giả dược.
Con số hay được chia sẻ trên mạng là tỷ lệ sống sau một năm: 83% ở nhóm nabiximols so với 44% ở nhóm giả dược. Bối cảnh đi kèm thì hiếm khi được nhắc tới:
- Chỉ có 21 người tham gia. Thử nghiệm quá nhỏ để phát hiện khác biệt thật về thời gian sống.
- Hai người ở nhóm giả dược tử vong trong 40 ngày đầu. Nhóm này chỉ có 9 người, nên mỗi ca tử vong làm kết quả lệch khoảng 11 điểm phần trăm.
- Sau sáu tháng, tỷ lệ người còn sống mà khối u không lớn thêm ở hai nhóm như nhau: 33%.
Nhóm nghiên cứu chỉ kết luận rằng kết quả này đủ cơ sở để làm một thử nghiệm đủ lớn để cho câu trả lời thật. Một bài xã luận trên cùng tạp chí cảnh báo không nên tuỳ tiện dùng ngoài chỉ định (off-label). Dùng ngoài chỉ định là kê thuốc cho mục đích không nằm trong giấy phép của thuốc.
Thử nghiệm lớn hơn đó có tên ARISTOCRAT, đang được tiến hành ở Vương quốc Anh. Thử nghiệm so sánh temozolomide có và không có cannabinoid trên glioblastoma tái phát. Đề cương (protocol) của thử nghiệm đã được công bố trên BMC Cancer năm 2024.
Ghi chú của người dịch: Mọi điểm thử nghiệm ARISTOCRAT đều ở Vương quốc Anh. Thông tin đăng ký cho thấy thử nghiệm đã ngừng tuyển người bệnh. Nếu người bệnh muốn dùng cannabinoid trong điều trị ung thư, họ có thể hỏi bác sĩ ung bướu về các thử nghiệm lâm sàng đã đăng ký. Trong thử nghiệm, cannabinoid được dùng thêm vào điều trị chuẩn và người bệnh được theo dõi.
10. Các phác đồ dầu cần sa liều cao
Nhiều người tìm đọc chủ đề này để biết về dầu cần sa cô đặc chiết từ cả cây, uống với lượng tăng dần trong một khoảng thời gian cố định. Một người đàn ông Canada đã làm loại dầu này nổi tiếng vào cuối những năm 2000, và nó mang tên ông. Xem Dầu Rick Simpson. Bài này không đưa liều lượng, lịch dùng hay cách làm, để người đang hoảng sợ không có gì làm theo thay vì đi gặp bác sĩ ung bướu.
Chưa có thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng nào về phác đồ này được công bố. Cũng chưa có loạt ca bệnh có đối chứng nào được công bố. Các lời đồn rằng dùng lượng định sẵn trong số ngày định sẵn sẽ cho kết quả định sẵn được lặp lại rất nhiều nhưng không có nguồn.
Cancer Research UK, một tổ chức từ thiện nghiên cứu ung thư của Anh, cho biết nghiên cứu tới nay chỉ mới làm trong phòng thí nghiệm và cho kết quả trái chiều. Các nghiên cứu này chưa cho biết cannabinoid có chữa được ung thư ở người hay không. Tổ chức này cũng lưu ý chất lượng các loại dầu này chênh lệch quá lớn. Không ai biết chắc trong một chai dầu có gì.
Nhiều người tìm tới các phác đồ này sau khi nghe bác sĩ nói khả năng sống của mình thấp. Đó là phản ứng rất con người, không phải sự dại dột.
Ghi chú của người dịch: Đôi khi người trồng được nhờ làm “dầu chữa ung thư” cho người bệnh. Bán hoặc chế biến thảo dược kiểm soát khi không có giấy phép là vi phạm Điều 46 Luật Bảo vệ Y học Cổ truyền Thái B.E. 2542 (1999). Theo Điều 78, mức phạt là tù tới 1 năm, phạt tiền tới 20.000 baht, hoặc cả hai. Ngoài ra, giấy phép cho chiết xuất có trên 0,2% THC chỉ cấp cho một số đơn vị. Đó là pháp nhân Thái không bị xem là “nước ngoài” theo Luật Kinh doanh của Người nước ngoài B.E. 2542, cơ quan nhà nước và Hội Chữ thập đỏ Thái Lan. Quy định này nằm trong Quy định cấp Bộ về chiết xuất cần sa hoặc gai dầu B.E. 2569, có hiệu lực từ 26/4/2026. Nếu có người nhờ bạn làm loại dầu này, hãy từ chối và khuyên họ đi gặp bác sĩ ung bướu.
11. Chuyện gì xảy ra khi người bệnh bỏ điều trị chính thống
Năm 2018, nhóm của Johnson công bố một nghiên cứu trên Journal of the National Cancer Institute. Từ Cơ sở Dữ liệu Ung thư Quốc gia Mỹ (National Cancer Database), nhóm tìm được 281 người bệnh ung thư vú, tuyến tiền liệt, phổi hoặc đại trực tràng chưa di căn tới cơ quan ở xa. Những người này chỉ chọn y học thay thế để điều trị. Nghiên cứu tính mọi hình thức y học thay thế, không riêng cần sa. Mỗi người được ghép cặp với người bệnh có đặc điểm tương tự đã điều trị chính thống, tổng cộng 560 người.
Tỷ số nguy cơ (hazard ratio) so sánh nguy cơ tử vong giữa hai nhóm tại bất kỳ thời điểm nào. Tỷ số nguy cơ 2,50 nghĩa là nguy cơ tử vong cao gấp 2,5 lần.
| Loại ung thư | Tỷ lệ còn sống sau 5 năm, chỉ dùng y học thay thế | Tỷ lệ còn sống sau 5 năm, điều trị chính thống | Tỷ số nguy cơ tử vong |
|---|---|---|---|
| Cả bốn loại | 54,7% | 78,3% | 2,50 |
| Vú | 58,1% | 86,6% | 5,68 |
| Đại trực tràng | 32,7% | 79,4% | 4,57 |
| Phổi | 19,9% | 41,3% | 2,17 |
| Tuyến tiền liệt | — | — | 1,68 (không có ý nghĩa thống kê, có thể do ngẫu nhiên) |
Năm 2018, nhóm này công bố thêm một phân tích trên JAMA Oncology. Phân tích xem xét những người dùng y học bổ trợ song song với điều trị chính thống. Nguy cơ của họ cao hơn vì họ từ chối một phần điều trị chính thống. Bản thân liệu pháp bổ trợ không làm tăng nguy cơ. Mối nguy nằm ở việc bỏ điều trị và trì hoãn điều trị. Xem Khi người bệnh từ chối điều trị ung thư để dùng cần sa.
Việc bạn làm được: Nếu người quen định dùng cần sa thay cho điều trị, hãy cho họ xem bảng này. Khuyên họ mang bảng tới hỏi bác sĩ ung bướu trước khi quyết định.
12. Những tương tác thuốc cần lưu ý trong điều trị ung thư
Cytochrome P450 là nhóm enzyme ở gan, có nhiệm vụ phân giải nhiều loại thuốc. THC được phân giải chủ yếu bởi hai enzyme CYP2C9 và CYP3A4. CBD được phân giải chủ yếu bởi CYP2C19, có thêm CYP2C9 và CYP3A4 hỗ trợ.
Trong thử nghiệm phòng thí nghiệm, cả hai chất còn làm chậm một số enzyme này. Một bài tổng quan năm 2023 trên tạp chí y khoa Đức Deutsches Ärzteblatt International đã liệt kê các enzyme đó. THC làm chậm 1A2, 3A4, 2B6, 2C9 và 2D6. CBD làm chậm 3A4, 2C19 và 2C9. Nhiều thuốc hoá trị, thuốc chống nôn và thuốc giảm đau nhóm opioid cũng được phân giải bởi các enzyme này. Khi enzyme chậm lại, thuốc khác có thể tích tụ trong máu. Xem Tương tác thuốc của cần sa.
| Thuốc | Tác động đã ghi nhận | Vì sao quan trọng |
|---|---|---|
| Warfarin (thuốc chống đông máu) | Một bài tổng quan năm 2022 trên Journal of Clinical Medicine xếp tương tác này vào mức rủi ro cao nhất trong các tương tác của cần sa đã ghi nhận. Chỉ số INR tăng mạnh. INR là xét nghiệm máu đo thời gian máu đông. | Nguy cơ chảy máu ở người dùng thuốc chống đông |
| Tacrolimus (thuốc ức chế miễn dịch) | CBD làm nồng độ thuốc trong máu tăng cao đến mức phải giảm liều mạnh | Thuốc dùng sau ghép tạng và trong bệnh ghép chống chủ, khi tế bào miễn dịch của người hiến tấn công cơ thể người bệnh sau ghép tế bào gốc |
Cần sa còn làm nặng thêm cơn buồn ngủ do opioid và benzodiazepine (thuốc ngủ, thuốc chống lo âu). Cần sa cũng có thể gây chóng mặt, nguy hiểm với hai nhóm. Một là người có tiểu cầu thấp (giảm tiểu cầu) nên dễ chảy máu. Hai là người có ung thư di căn vào xương, vì một cú ngã có thể gây gãy xương.
Cần sa và thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch
Thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch (immune checkpoint inhibitor) là thuốc ung thư gỡ bỏ cơ chế kìm hãm của hệ miễn dịch. Nhờ đó tế bào T tấn công được khối u. Nivolumab là một thuốc thuộc nhóm này. Nghiên cứu ở mục 8 cho thấy cần sa làm yếu tế bào T, nên cần hỏi liệu cần sa có làm giảm tác dụng của nhóm thuốc này không. Hai nghiên cứu quan sát cho thấy khả năng đó.
Nhóm của Taha (The Oncologist, 2019) so sánh 89 người chỉ dùng nivolumab với 51 người dùng nivolumab kèm cần sa. Tỷ lệ đáp ứng là 37,5% ở nhóm chỉ dùng nivolumab và 15,9% ở nhóm dùng thêm cần sa. Cần sa là yếu tố duy nhất có ý nghĩa thống kê gắn với tỷ lệ đáp ứng thấp hơn.
Nhóm của Bar-Sela (Cancers, 2020) theo dõi 102 người bắt đầu dùng liệu pháp miễn dịch, trong đó 34 người dùng cần sa. Thời gian trung vị tới khi ung thư phát triển trở lại là 3,4 tháng ở người dùng cần sa và 13,1 tháng ở người không dùng. Thời gian sống toàn bộ trung vị là 6,4 tháng so với 28,5 tháng.
Cả hai đều là nghiên cứu quan sát và có yếu tố gây nhiễu: những khác biệt khác giữa hai nhóm cũng có thể giải thích kết quả. Ví dụ, người bệnh nặng hơn có thể dễ tìm tới cần sa hơn. Không nghiên cứu nào chứng minh cần sa gây hại. Dù vậy, hai bộ dữ liệu đều chỉ về cùng một hướng. MASCC (Hiệp hội Đa quốc gia về Chăm sóc Hỗ trợ trong Ung thư) khuyên thận trọng khi dùng cần sa cùng thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch.
Việc bạn làm được: Người đang dùng liệu pháp miễn dịch nên báo bác sĩ ung bướu trước khi dùng bất kỳ sản phẩm cần sa nào. Khi đó bác sĩ có thể cân nhắc tín hiệu rủi ro này với tình trạng cụ thể của người bệnh.
13. Rủi ro nhiễm bẩn với người có miễn dịch yếu
Trong một nghiên cứu năm 2020 trên Emerging Infectious Diseases, nhóm của Benedict so sánh 53.217 người có mã chẩn đoán sử dụng cần sa trong hồ sơ bệnh án với hơn 21 triệu người không có mã này. Tỷ lệ nhiễm nấm là 0,08% ở người dùng và 0,03% ở người không dùng. Sau khi điều chỉnh theo tuổi và tình trạng suy giảm miễn dịch, tỷ số chênh (odds ratio) là 3,5. Nghĩa là khả năng nhiễm nấm ở người dùng cao gấp khoảng 3,5 lần. Các ca nhiễm gồm bệnh nấm Aspergillus (aspergillosis) và bệnh nấm Mucor (mucormycosis). Đây là những bệnh nấm nặng, có thể xâm lấn phổi và các cơ quan khác. Thiết kế nghiên cứu không chứng minh được cần sa là nguyên nhân. Dù vậy, nhóm nghiên cứu vẫn cảnh báo người có miễn dịch yếu có thể bị bệnh nặng và tử vong.
Một bài tổng quan năm 2023 trên Frontiers in Microbiology giải thích nguyên nhân. Hơn một trăm loài nấm đã được tìm thấy trên cần sa, trong đó có Aspergillus, Penicillium và Mucor. Một số loài có thể sinh độc tố nấm (mycotoxin), như aflatoxin và ochratoxin A. Nhiệt khi hút hoặc vape có thể không diệt hết bào tử nấm.
Giảm bạch cầu trung tính (neutropenia) là khi bạch cầu trung tính, loại bạch cầu chống nhiễm trùng, xuống rất thấp. Hoá trị thường gây ra tình trạng này. Người bị giảm bạch cầu trung tính mà mắc bệnh nấm Aspergillus xâm lấn có tỷ lệ tử vong rất cao. Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), kim loại nặng và dung môi cũng bị cô đặc trong dầu cùng với cannabinoid.
Ghi chú của người dịch: Mùa mưa ở Thái Lan có độ ẩm cao, làm tăng nguy cơ mốc khi làm khô và bảo quản. Xem Độc tố nấm trên hoa cần sa. Nếu bạn trồng cho người bệnh, hãy gửi từng lô đi xét nghiệm nấm mốc, độc tố nấm, dư lượng thuốc BVTV và kim loại nặng. Kết quả xét nghiệm cho biết lô đó có an toàn cho người miễn dịch yếu hay không. Cách đọc kết quả có trong Cách đọc phiếu kết quả phân tích (COA) cần sa. Chỉ dùng thuốc BVTV đã đăng ký với Cục Nông nghiệp Thái Lan (กรมวิชาการเกษตร) và dùng đúng theo nhãn. Xem Dư lượng thuốc BVTV trên cần sa.
Vì sao dầu không nhãn đặc biệt nguy hiểm
Trong nghiên cứu đăng trên JAMA tháng 11/2017, nhóm của Bonn-Miller xét nghiệm 84 sản phẩm CBD của 31 công ty bán qua mạng. Chỉ khoảng 30% sản phẩm có hàm lượng lệch không quá 10% so với nhãn. Một số sản phẩm có THC dù nhãn không ghi.
Dầu không nhãn, chưa xét nghiệm còn tệ hơn về mọi mặt. Người dùng không biết nồng độ, tạp chất hay dung môi chiết của dầu. Nếu có sự cố, không có hồ sơ lô để truy vết hay thu hồi.
Việc bạn làm được: Tuyệt đối không đưa dầu chưa xét nghiệm cho người đang hoá trị. Nếu người bệnh đã dùng một sản phẩm, hãy mang nhãn và phiếu xét nghiệm của sản phẩm đó tới đội ngũ bác sĩ ung bướu.
14. Người bệnh và người chăm sóc nên làm gì
Việc hữu ích nhất trong bài này là báo cho bác sĩ. Hướng dẫn năm 2024 của ASCO (Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Hoa Kỳ) yêu cầu bác sĩ và người bệnh trao đổi cởi mở, không phán xét về việc dùng cần sa. Hướng dẫn khuyến cáo không dùng cần sa để điều trị chính bệnh ung thư, trừ khi trong thử nghiệm lâm sàng. Bác sĩ ung bướu không thể kiểm tra tương tác với sản phẩm mà họ không biết bạn đang dùng. Hãy ghi lại bạn dùng gì, bao nhiêu, lúc nào, rồi mang danh sách theo khi đi khám. Những câu nên hỏi bác sĩ:
- Tôi có đang dùng thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch không? Nếu có, lời khuyên của bác sĩ có thay đổi không?
- Tôi có đang dùng thuốc chống đông, có tiểu cầu thấp hay có nguy cơ té ngã không?
- Bạch cầu của tôi có thấp tới mức hít khói hay hơi từ cây có thể gây nhiễm trùng không?
- Có thuốc cannabinoid nào được cấp phép để dùng thay không?
Quy định pháp lý tại Thái Lan
Hoa cần sa là thảo dược kiểm soát theo Thông báo của Bộ Y tế Công cộng về Thảo dược kiểm soát (cần sa) B.E. 2568. Thông báo được ban hành theo Luật Bảo vệ Y học Cổ truyền Thái B.E. 2542 và có hiệu lực từ 26/6/2025. Chỉ được bán hoa khi có đơn kê mẫu PT 33 (ภ.ท.33) của người hành nghề có giấy phép, tối đa đủ dùng 30 ngày. Cấm quảng cáo hoa cần sa, kể cả quảng cáo công dụng chữa bệnh. Cấm bán hoa qua mạng. Xem Quy định quảng cáo và bán cần sa tại Thái Lan.
Quy định cấp Bộ về Thảo dược kiểm soát (số 2) B.E. 2569 có hiệu lực từ 30/4/2026. Quy định này siết chặt điều kiện cấp phép với hoa cần sa. Dự thảo Luật Kiểm soát Cần sa chưa thành luật. Ngày 22/9/2026, Nội các đã thông qua dự thảo và chuyển sang Hạ viện.
Người nói khác với các quy định trên, nhất là người bán hứa sản phẩm chữa được ung thư, là đang vi phạm pháp luật, và bằng chứng khoa học cũng không ủng hộ họ.
Việc bạn làm được: Chỉ mua qua kênh hợp pháp, có đơn kê. Không mua của người bán hứa chữa khỏi ung thư. Bạn có thể báo các quảng cáo sức khoẻ sai sự thật qua đường dây nóng 1556 của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Thái Lan (Thai FDA) hoặc Sở Y tế tỉnh nơi bạn ở.
15. Hướng đi của nghiên cứu
Để biết cannabinoid có chống được khối u hay không, một thử nghiệm cần đủ năm điều:
- Sản phẩm được chuẩn hoá, đạt chất lượng dược phẩm.
- Cách đưa thuốc vào cơ thể đạt được nồng độ mà các nghiên cứu phòng thí nghiệm cho là cần thiết. Đây là vấn đề chính chưa có lời giải.
- Cannabinoid được dùng thêm vào điều trị chuẩn, không thay thế. Bỏ một phương pháp điều trị có hiệu quả là trái y đức.
- Đủ số người bệnh để phát hiện một khác biệt về thời gian sống ở mức thực tế.
- Mục tiêu về thời gian sống được đặt ra trước khi thử nghiệm bắt đầu.
Về triệu chứng, bước tiếp theo hữu ích là thử nghiệm so sánh trực tiếp cannabinoid với các thuốc chống nôn hiện đại.
Trong lúc chờ, nói “cần sa chẳng có tác dụng gì” là không trung thực. Cần sa có một vai trò hẹp, được các hướng dẫn điều trị công nhận: chống buồn nôn, nôn do hoá trị khi thuốc chuẩn không kiểm soát được. Với đau do ung thư, kết quả đáng thất vọng. Với các mục đích khác, bằng chứng chưa đủ. Cần sa chưa có vai trò nào được xác lập trong điều trị chính bệnh ung thư.
Nếu bạn là người bệnh hoặc người chăm sóc, mời bạn chia sẻ trong topic này. Hãy kể bạn đã thử gì, cái gì giúp được, cái gì không, và điều bạn ước mình biết sớm hơn. Những chia sẻ này giúp người đến sau đang lo sợ. Đội ngũ ung bướu biết giai đoạn bệnh, chỉ số máu và danh sách thuốc của bạn. Không ai ở đây biết những điều đó. Hãy mang những gì đọc được ở đây tới hỏi họ. Đừng ngừng, trì hoãn hay thay thế điều trị chỉ vì một bài đăng trên diễn đàn, kể cả bài này.
Bài này thuộc loạt bài giáo dục về cần sa y tế của Asiannabis Community. Đây là thông tin chung, không phải lời khuyên y tế. Quyết định điều trị thuộc về người hành nghề y có giấy phép. Nội dung chỉ nhằm mục đích giáo dục tại những nơi pháp luật cho phép dùng cần sa y tế.
Tài liệu tham khảo cho Phần 2
- Ramer và Hinz, tổng quan về cannabinoid trong ung thư, British Journal of Cancer, 2022.
- Carkaci-Salli và cộng sự, “Cannabinoids as Potential Cancer Therapeutics: The Concentration Conundrum”, Cannabis and Cannabinoid Research 9(4), 2024.
- Nghiên cứu về cần sa, CNR2 và tín hiệu JAK/STAT ở tế bào T, Signal Transduction and Targeted Therapy, 2022.
- Guzmán và cộng sự, nghiên cứu thí điểm THC trên glioblastoma tái phát, British Journal of Cancer, 2006; bản tóm tắt của Viện Ung thư Quốc gia Mỹ.
- Twelves và cộng sự, thử nghiệm pha 1b nabiximols kết hợp temozolomide trên glioblastoma tái phát, 2021, và bài xã luận đi kèm.
- Đề cương thử nghiệm ARISTOCRAT, BMC Cancer, 2024.
- Cancer Research UK, tuyên bố về cần sa và nghiên cứu ung thư.
- Johnson và cộng sự, y học thay thế và thời gian sống, Journal of the National Cancer Institute, 2018.
- Johnson và cộng sự, y học bổ trợ và việc từ chối điều trị chính thống, JAMA Oncology, 2018.
- Tổng quan về tương tác thuốc của cannabinoid, Deutsches Ärzteblatt International, 2023.
- Tổng quan về tương tác thuốc của cần sa, Journal of Clinical Medicine, 2022.
- Taha và cộng sự, cần sa và nivolumab, The Oncologist, 2019.
- Bar-Sela và cộng sự, cần sa và kết quả liệu pháp miễn dịch, Cancers, 2020.
- Benedict và cộng sự, nhiễm nấm ở người dùng cần sa, Emerging Infectious Diseases, 2020.
- Tổng quan về hệ vi nấm (mycobiome) trên cần sa, Frontiers in Microbiology, 2023.
- Bonn-Miller và cộng sự, độ chính xác của nhãn sản phẩm CBD bán qua mạng, JAMA, tháng 11/2017.
- Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Hoa Kỳ (ASCO), hướng dẫn về cần sa và cannabinoid ở người lớn mắc ung thư, 2024.
- Thông báo của Bộ Y tế Công cộng về Thảo dược kiểm soát (cần sa) B.E. 2568; Luật Bảo vệ Y học Cổ truyền Thái B.E. 2542; Quy định cấp Bộ về chiết xuất cần sa hoặc gai dầu B.E. 2569; Quy định cấp Bộ về Thảo dược kiểm soát (số 2) B.E. 2569.